Cam kết của việt nam trong WTO và một số vướng mắc khi áp dụng cam kết mở cửa thị trường dịch vụ
Tạp chí Tạp chí số 5/2007 > Phát hành năm 2007 > Pháp luật Từ góc nhìn thực tiễn
Ngày 11 tháng 01 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Bộ văn kiện gia nhập WTO của Việt Nam được Ban công tác thông qua vào ngày 26/10/2006 và Đại hội đồng WTO thông qua vào ngày 07/11/2006.
Các văn kiện pháp lý của WTO gồm những gì?
Sau Vòng đàm phán Uruguay từ 1986 – 1994, WTO được thành lập với 60 các hiệp định, phụ lục, quyết định và bản ghi nhớ. Một con số làm nản lòng cho những ai muốn tìm hiểu chi tiết. Tuy nhiên, các văn kiện này chỉ thuộc các nhóm vấn đề chính sau: (1) Hiệp định nền tảng (Hiệp định thành lập WTO hay còn gọi là Hiệp định Marrakesh); (2) các hiệp định cho 03 lĩnh vực thương mại cơ bản theo tiêu chí phân chia của WTO là thương mại hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ; (3) hiệp định về giải quyết tranh chấp; (4) hiệp định về xem xét lại chính sách thương mại của các chính phủ.
Các hiệp định nền tảng của 03 lĩnh vực thương mại nói trên gồm: (1) Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (Hiệp định GATT) áp dụng đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa; (2) Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (Hiệp định GATS) áp dụng đối với hoạt động cung cấp dịch vụ; (3) Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs).
Từ 03 Hiệp định thương mại nền tảng này WTO xây dựng nên các hiệp định phụ và các phụ lục áp dụng cho các lĩnh vực, nhu cầu đặc thù như: nông nghiệp, vệ sinh thực phẩm v.v.
Xuất phát từ các yêu cầu pháp lý của các hiệp định, phụ lục, quyết định nói trên của WTO, các nước khi gia nhập sẽ phải đưa ra các cam kết cụ thể của mình dưới hình thức các biểu cam kết về hàng hóa hoặc dịch vụ mà Biểu cam kết về thương mại hàng hóa và Biểu cam kết về thương mại dịch vụ của chúng ta là ví dụ. Trong các biểu cam kết này sẽ quy định cam kết cụ thể mở cửa thị trường của một nước thành viên, cho phép các thành viên khác tiếp cận thị trường mình ở mức độ mà nước gia nhập cam kết.
Các văn kiện pháp lý của WTO có thể phác họa theo mô hình sau: (xem bảng dưới).
*
Hiến chương WTO
Hiệp định thành lập WTO
Hàng Hóa
Dịch Vụ
SHTT
Văn kiện cơ bản
GATT
GATS
TRIPS
Văn kiện chi tiết
Các hiệp định, phụ lục khác về hàng hóa
Các phụ lục về dịch vụ
*
Cam kết của các quốc gia
Cam kết cụ thể về mở cửa thị trường hàng hóa
Cam kết cụ thể về mở cửa thị trường dịch vụ
Giải quyết tranh chấp
Giải quyết tranh chấp
Minh bạch về chính sách
Xem xét lại chính sách thương mại của chính phủ
*
Ngoài các văn kiện bắt buộc nói trên còn hai hiệp định không bắt buộc các nước thành viên phải tham gia và tuân thủ (hay còn gọi là hiệp định nhiều bên) là hiệp định về mua sắm chính phủ và mua bán máy bay dân dụng.
Lưu ý rằng các văn kiện WTO trên không phải là bất biến mà nó để ngỏ để có thể sửa đổi, bổ sung cũng như các nước thành viên có thể thông qua các văn kiện mới.
1. Các cam kết của Việt Nam khi gia Nhập WTO
1.1. Cam kết đa phương
- Cam kết về ngoại hối (không được áp dụng các biện pháp hạn chế việc thanh toán và chuyển tiền đối với các giao dịch vãng lai quốc tế);
- Doanh nghiệp nhà nước có cổ phần chi phối sẽ mua sắm ngoài mua sắm chính phủ thực hiện theo tiêu chí thương mại;
- Cam kết về giá trị ưu tiên của điều ước quốc tế so với quy định pháp luật trong nước;
- Cam kết các điều khoản của WTO được áp dụng thống nhất trên toàn quốc và chính quyền địa phương phải tuân thủ các điều khoản này;
- Cam kết về quyền xuất khẩu, nhập khẩu thông qua thủ tục đăng ký của nhà nhập khẩu đứng tên trên hồ sơ (importer of record) mà không cần phải đầu tư tại Việt Nam;
- Cam kết nhà nhập khẩu hoặc xuất khẩu đứng tên trên hồ sơ có quyền bán sản phẩm nhập khẩu cho cá nhân hoặc doanh nghiệp tại Việt Nam có quyền phân phối sản phẩm;
- Cam kết nhà nhập khẩu được tự do lựa chọn nhà phân phối;
- Cam kết điều chỉnh thuế suất đối với rượu, bia trong thời hạn 03 năm;
- Cam kết xóa bỏ toàn bộ các hình thức trợ cấp không được WTO chấp thuận (dựa vào thành tích xuất khẩu hoặc khuyến khích sử dụng hàng trong nước thay thế hàng nhập khẩu) dành cho ngành dệt may;
- Cam kết xóa bỏ trong 05 năm từ thời điểm gia nhập chương trình ưu đãi đầu tư trên tiêu chí khuyến khích xuất khẩu cho các doanh nghiệp;
- Cam kết thi hành ngay lập tức Hiệp định TBT (hàng rào kỹ thuật trong thương mại);
- Cam kết xóa bỏ các biện pháp yêu cầu tỷ lệ xuất khẩu, tỷ lệ nội địa hóa ảnh hưởng đến Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại (Hiệp định TRIMs);
- Cam kết việc sao chép các sản phẩm thuộc bảo hộ của sở hữu trí tuệ với quy mô thương mại sẽ bị áp dụng biện pháp hình sự;
- Cam kết xóa bỏ tỷ lệ luật định tối thiểu 65% và 75% khi quyết định vấn đề quan trọng của doanh nghiệp sẽ bị xóa bỏ. Thay vào đó các thành viên sáng lập hoặc cổ đông có quyền quyết định cho mình tỷ lệ thích ứng, kể cả tỷ lệ tối thiểu 51%.
1.2. Cam kết về thương mại hàng hóa
Tổng cộng có 10.600 dòng thuế liệt kê trong Biểu cam kết về thương mại hàng hóa. Mỗi dòng này liệt kê một hoặc hơn một các loại hàng hóa. Mức thuế bình quân toàn biểu giảm từ mức cam kết ban đầu là 17,4% xuống còn 13,4% trong vòng từ 5 – 7 năm sau khi Việt Nam gia nhập. Mức thuế bình quân đối với hàng nông sản giảm từ 23,5% xuống 20,9% thực hiện trong thời hạn khoảng 5 năm. Mức thuế hàng công nghiệp giảm từ 16,8% xuống còn 12,6%, thực hiện trong thời hạn từ 5 – 7 năm. Những ngành có mức giảm thuế nhiều nhất gồm dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác và máy móc, thiết bị điện tử. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, đối với rượu, bia thì các mặt hàng này vẫn chịu mức thuế tiêu thụ đặc biệt trong nước trong thời hạn 3 năm.
Về hạn ngạch thuế quan, Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng với mặt hàng đường, trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối
1.3. Các cam kết về thương mại dịch vụ
Trong Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) Việt Nam cam kết 8 ngành dịch vụ (khoảng 65 phân ngành). Trong Biểu cam kết về dịch vụ khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết 11/12 ngành dịch vụ, tính theo phân ngành là 112. Lưu ý một số ngành dịch vụ ta không có cam kết như dịch vụ in ấn, xuất bản, dịch vụ liên quan đến bất động sản v.v.
1.3.1. Cam kết chung:
- Trừ khi tại các ngành và phân ngành cụ thể có quy định khác thì doanh nghiệp cung cấp dịch vụ được hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức văn phòng đại diện, hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Tuy nhiên, về cơ bản Việt Nam không cho phép doanh nghiệp thành lập chi nhánh trừ trong một số ngành cụ thể được quy định tại Biểu cam kết. Lưu ý các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ khác với các doanh nghiệp (thương nhân) thương mại thành lập chi nhánh theo Nghị định 72/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam (hoạt động mua bán hàng hóa)1 Một số lĩnh vực dịch vụ cụ thể mà công ty nước thành viên có thể thành lập chi nhánh là dịch vụ pháp lý (luật sư), tư vấn quản lý (sau 3 năm), thi công xây dựng (sau 3 năm), nhượng quyền thương mại (sau 3 năm), chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ (sau 5 năm), ngân hàng v.v.
- Doanh nghiệp nước ngoài (thậm chí cả doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) phải có ít nhất 20% tổng số các nhà quản lý, giám đốc điều hành và chuyên gia là người Việt Nam. Tuy nhiên, các doanh nghiệp này có thể có ít nhất 3 người giữ chức vụ quản lý, điều hành và chuyên gia không phải là người Việt Nam. Doanh nghiệp nước ngoài là doanh nghiệp mà phần vốn góp của bên nước ngoài tối thiểu là 51%.
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép góp vốn dưới hình thức mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam. Tại thời điểm gia nhập thì tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tối đa là 30%. Một năm sau ngày gia nhập, hạn chế này được gỡ bỏ, trừ trường hợp góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại cổ phần và những ngành không cam kết trong Biểu cam kết này.
1.3.2. Một số cam kết cụ thể:
- Lĩnh vực dịch vụ pháp lý: Việt Nam cam kết cho phép tổ chức luật sư nước ngoài được phép thành lập chi nhánh, công ty luật 100% vốn nước ngoài với tổ chức luật sư nước ngoài khác, công ty con 100% vốn của mình, công ty trách nhiệm hữu hạn liên doanh với tổ chức luật sư Việt Nam hay công ty luật hợp danh liên doanh với công ty luật hợp danh Việt Nam. Luật sư nước ngoài được tư vấn luật nước ngoài và có thể tư vấn luật Việt Nam nếu luật sư nước ngoài có bằng cử nhân luật do Việt Nam cấp.
- Dịch vụ quảng cáo: Kể từ ngày gia nhập, công ty quảng cáo nước ngoài được thành lập liên doanh hoặc tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh với đối tác Việt Nam đã được phép kinh doanh dịch vụ quảng cáo. Khi lựa chọn mô hình hợp tác liên doanh, phần vốn góp của phía nước ngoài không được vượt quá 51% vốn pháp định của liên doanh. Từ ngày 01/01/2009 hạn chế tỷ lệ góp vốn này được gỡ bỏ.
- Dịch vụ thi công xây dựng: Công ty xây dựng của nước thành viên WTO có thể thành lập mọi hình thức hiện diện thương mại tại Việt Nam như chi nhánh, công ty liên doanh hay công ty 100% vốn nước ngoài. Tuy nhiên, việc thành lập chi nhánh chỉ được phép sau 03 năm Việt Nam gia nhập. Đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì trong vòng 02 năm kể từ ngày gia nhập, doanh nghiệp đó chỉ có thể cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc dự án có vốn nước ngoài.
- Dịch vụ phân phối: Kể từ thời điểm gia nhập, tổ chức, cá nhân nước ngoài muốn tham gia vào hệ thống phân phối (bao gồm hoạt động đại lý hưởng hoa hồng, bán buôn và bán lẻ) của Việt Nam phải thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam và tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài tối đa là 49%. Từ ngày 01/01/2008 hạn chế phần vốn góp 49% này được bãi bỏ và kể từ ngày 01/01/2009 thì hạn chế phải thành lập liên doanh được gỡ bỏ. Từ thời điểm gia nhập, công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối được cung cấp dịch vụ đại lý hoa hồng, bán buôn và bán lẻ tất cả các sản phẩm sản xuất hoặc nhập hợp pháp vào Việt Nam ngoại trừ một số sản phẩm như xi-măng, giấy, máy kéo, phương tiện cơ giới, ô tô con và xe máy, sắt thép, thiết bị nghe nhìn, rượu và phân bón v.v. Từ ngày 01/01/2009 các hạn chế phân phối đối với máy kéo, phương tiện cơ giới, ô tô con và xe máy được bãi bỏ và muộn nhất 3 năm sau ngày gia nhập, mọi hạn chế về mặt hàng được gỡ bỏ.
- Dịch vụ giáo dục: Việt Nam chỉ cam kết đào tạo giáo dục bậc cao (không cam kết giáo dục phổ thông) và trong các lĩnh vực kỹ thuật, khoa học tự nhiên và công nghệ, quản trị kinh doanh và khoa học kinh doanh, kinh tế học, kế toán, luật quốc tế và đào tạo ngôn ngữ. Về hiện diện thương mại thì từ thời điểm gia nhập chỉ cho phép thành lập liên doanh với phần vốn góp của bên nước ngoài không hạn chế. Từ ngày 01/01/2009 cho phép thành lập cơ sở đào tạo 100% vốn nước ngoài.
- Dịch vụ bảo hiểm: Không có hạn chế đối với các loại hình hiện diện thương mại, ngoại trừ doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài không được kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc, bao gồm bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm các công trình dầu khí và các công trình dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng và môi trường. Hạn chế này sẽ được gỡ bỏ từ ngày 01/01/2008. Sau 5 năm từ ngày gia nhập, doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được thành lập chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ.
- Dịch vụ ngân hàng: Cam kết cho thành lập mọi loại hình hiện diện thương mại bao gồm văn phòng đại diện, chi nhánh, liên doanh với đối tác Việt Nam (với phần vốn góp tối đa 50%) và ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Tuy nhiên, việc thành lập chi nhánh và ngân hàng liên doanh hoặc ngân hàng 100% vốn nước ngoài phải chịu một số điều kiện về vốn điều lệ của ngân hàng mẹ, tình hình kinh doanh v.v. Ngoài ra còn một số hạn chế khác đối với chi nhánh như không được mở điểm giao dịch ngoài trụ sở của chi nhánh hay trong thời hạn 05 năm kể từ thời điểm gia nhập, Việt Nam có thể hạn chế quyền nhận tiền gửi tiết kiệm đồng Việt Nam từ cá nhân, hộ gia đình ở mức tương đương với mức vốn của ngân hàng mẹ cấp cho chi nhánh. Ví dụ như cho đến ngày 31/12/2007 chỉ được nhận khoản tiền gửi tối đa bằng 650% vốn pháp định của chi nhánh.
- Dịch vụ chứng khoán: Từ thời điểm gia nhập, tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ chứng khoán được thành lập văn phòng đại diện và công ty liên doanh với đối tác Việt Nam trong đó tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài tối đa là 49%. Sau 05 năm kể từ thời điểm gia nhập thì có quyền thành lập doanh nghiệp chứng khoán 100% vốn đầu tư nước ngoài. Đối với một số dịch vụ chứng khoán thì Việt Nam cho phép doanh nghiệp nước ngoài thành lập chi nhánh.
- Dịch vụ y tế: Ngay từ thời điểm gia nhập, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài có thể thành lập bệnh viện 100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh với đối tác Việt Nam hoặc thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh. Tuy nhiên, vốn đầu tư tối thiểu phải là 20 triệu USD để thành lập một bệnh viện và 2 triệu USD để thành lập một phòng khám đa khoa. Tuy nhiên, Biểu cam kết không quy định vốn để thành lập công ty liên doanh là bao nhiêu?
- Ngoài ra Việt Nam còn cam kết trong các lĩnh vực du lịch, văn hóa, thể thao và vận tải.
2. Một số vướng mắc khi thực hiện cam kết trong lĩnh vực dịch vụ
2.1. Về quyền thành lập doanh nghiệp
Rất nhiều lĩnh vực dịch vụ trong Biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam khi gia nhập WTO cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập doanh nghiệp 100% vốn của mình tại Việt Nam ngay tại thời điểm gia nhập. Nhưng trên thực tế, việc thực hiện quyền này không dễ dàng. Trên thực tế, một số doanh nghiệp dịch vụ nước ngoài khi nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đầu tư ví dụ như cho dự án thành lập một công ty thi công xây dựng tại một số tỉnh, thành phố đã bị Sở KHĐT của tỉnh, thành phố đó khước từ vì lý do là không có dự án đầu tư cụ thể.
Lý do cho việc từ chối này bắt nguồn từ quy định tại Điều 50 của Luật Đầu tư 2005 và Điều 6 Nghị Định 108/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư. Theo các điều này thì nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và làm thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Khi làm thủ tục đăng ký hoặc thẩm tra dự án đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài phải giải trình về mục tiêu, quy mô và địa điểm thực hiện dự án đầu tư, tiến độ thực hiện dự án, nhu cầu sử dụng đất v.v. Đối với các dự án đầu tư vào sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh doanh hàng hóa v.v. thì các yêu cầu đăng ký này là hợp lý và có thể giải trình được. Tuy nhiên nếu áp dụng với lĩnh vực dịch vụ thì các yêu cầu này là không thích hợp. Cụ thể với một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ như tư vấn, kế toán, xây dựng v.v. thì họ khó có thể giải trình về mục tiêu, quy mô, địa điểm, tiến độ thực hiện dự án của mình vì, khác với bản chất của nhà đầu tư trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nhiều nhà đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ đơn thuần đến Việt Nam mà chưa có một dự án cụ thể mà họ muốn tìm và đón chờ cơ hội ở Việt Nam.
Trên thực tế, Sở KHĐT một số thành phố lớn đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài xin thành lập doanh nghiệp cung cấp dịch vụ 100% vốn nước ngoài trên cơ sở châm chước, không áp dụng cứng nhắc theo câu chữ của điều luật. Để giải trình với cơ quan nhà nước nhà đầu tư nước ngoài đã phải vắt óc nghĩ ra các thông tin để cho vào hồ sơ. Ví dụ như họ phải “xào nấu” con số về quy mô, tiến độ dự án. Về địa điểm dự án thì họ lấy địa chỉ dự kiến thuê văn phòng của mình. Cơ quan cấp phép đã chấp nhận những hồ sơ này.
Việc từ chối cấp Giấy chứng nhận đầu tư vì không có dự án đầu tư cụ thể đang thực tế diễn ra. Hành vi này là trái với cam kết của Việt Nam trong WTO về quyền thành lập hiện diện thương mại mà Việt Nam đã cam kết trong một số phân ngành cụ thể. Nếu hành vi từ chối cấp phép trên cơ sở này đối với nhà đầu tư thuộc nước thành viên WTO cứ tái diễn và mở rộng thì hậu quả pháp lý là Việt Nam bị kiện trước WTO có thể sẽ xảy ra.
Vì vậy, việc xem xét để hủy bỏ hoặc điều chỉnh sao cho phù hợp, ít nhất đối với lĩnh vực dịch vụ, yêu cầu về dự án đầu tư cần phải được xem xét lại trong bối cảnh cấp Giấy chứng nhận đầu tư hiện nay.
2.1.Về quyền kinh doanh
Quyền kinh doanh bao gồm quyền xuất khẩu và nhập khẩu của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Quyền này không bao gồm quyền phân phối hàng hóa. Việt Nam cam kết rằng nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài, bao gồm cả nhà đầu tư đã hiện diện tại Việt Nam và nhà cung cấp dịch vụ chưa có hiện diện tại Việt Nam đều có quyền xuất nhập khẩu tương đương với doanh nghiệp trong nước. Cam kết này đã được thể hiện tại các Nghị định 23/2007/NĐ-CP về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Thông tư 09/2007/TT-BTM hướng dẫn và Nghị định này và Nghị định 90/2007/NĐ-CP về quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu của thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc áp dụng cam kết về quyền xuất, nhập khẩu của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài này đã nảy sinh một số vấn đề thực tiễn như sau:
Thứ nhất, là trong Báo cáo của Ban công tác, Việt Nam cam kết với nguyên bản tiếng Anh rằng “any foreign firm or individual (including foreign-invested firms) registered to engage in import activities would be free to select a distributor or distributors of their choice provided that such distributor or distributors had the right to distribute the respective product(s) in the customs territory of Viet Nam.” Tạm dịch ra là: “mọi cá nhân hoặc doanh nghiệp nước ngoài (bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) đã đăng ký tiến hành các hoạt động nhập khẩu sẽ được tự do lựa chọn một hoặc các nhà phân phối để tiến hành (các) sản phẩm nhập khẩu liên quan trong phạm vi lãnh thổ hải quan của Việt Nam.” Tuy nhiên, khi dịch ra tiếng Việt (với bản dịch của Bộ Tài chính) thì cam kết này đã không được dịch sát nghĩa. Cụ thể bản dịch này dịch là: “mọi cá nhân hoặc doanh nghiệp nước ngoài (bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) đã đăng ký tiến hành các hoạt động nhập khẩu sẽ được tự do lựa chọn (các) nhà phân phối để tiến hành phân phối (các) sản phẩm nhập khẩu liên quan trong phạm vi lãnh thổ hải quan của Việt Nam.”
Có lẽ vì dựa trên bản dịch này mà Thông tư 09/2007/TT-BTM đã giới hạn tối đa quyền bán hàng nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Cụ thể điểm 3.1(d) của Thông tư quy định rằng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài “được bán mỗi nhóm hàng nhập khẩu cho một thương nhân có đăng ký kinh doanh mua bán hoặc có quyền phối nhóm hàng đó. Thương nhân này do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tự lựa chọn và đăng ký với cơ quan cấp phép có thẩm quyền. Mỗi nhóm hàng bao gồm các mặt hàng thuộc một Chương của Biểu thuế nhập khẩu.”
Phân tích điểm 3.1(d) Thông tư 09/2007/TT-BTM này chúng ta thấy rằng việc quy định nhà nhập khẩu chỉ được bán cho một thương nhân, về mặt pháp lý, rõ ràng là trái với cam kết của Việt Nam tại Báo cáo của Ban công tác. Báo cáo cho phép nhà nhập khẩu được bán cho một hoặc nhiều nhà phân phối chứ không phải là một nhà phân phối duy nhất.
Giải thích cho việc hạn chế số nhà phân phối, một quan chức của Bộ Thương mại giải thích rằng nếu cho phép bán cho nhiều nhà nhập khẩu thì vô hình chung là cho phép nhà nhập khẩu thành lập một mạng lưới phân phối trá hình. Vậy, bỏ qua việc trái với cam kết tại WTO, việc chỉ cho phép bán cho một nhà phân phối duy nhất có hạn chế được việc thành lập mạng lưới phân phối (trá hình) hay không? Câu trả lời là không vì trên thực tế, nếu nhìn vào giá cả của mặt hàng đang bán trên thị trường Việt Nam chúng ta đều thấy rằng giá bán mặt hàng tiêu dùng nhập khẩu tại các đại lý bán lẻ cuối cùng cho người tiêu dùng tương đối đồng đều nhau. Vì sao vậy? Lý do là vì nhà nhập khẩu (phân phối) chỉ là người làm thuê cho người bán nước ngoài. Hợp đồng mua bán giữa bên bán nước ngoài và nhà nhập khẩu trong nước chỉ là hình thức. Giá cả các khâu bao gồm giá bán của bên bán nước ngoài cho nhà nhập khẩu (phân phối) và giá bán từ nhà nhập khẩu đến các đại lý đều do bên bán nước ngoài quyết định. Thậm chí hợp đồng mua bán giữa nhà nhập khẩu (phân phối) Việt Nam và đại lý bán lẻ cũng do bên bán nước ngoài soạn hoặc thông qua. Vì vậy, ý định hạn chế việc thành lập mạng lưới phân phối trá hình bằng cách chỉ cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu bán cho một doanh nghiệp phân phối trong nước là không thực tế. Các doanh nghiệp nhập khẩu, phân phối và đại lý bán lẻ lại tiếp tục quan hệ tay ba như xưa đến nay và người tiêu dùng lại tiếp tục phải chịu chi phí trung gian cho bên phân phối.
Thứ hai, xét về tính khả thi và thực tiễn, việc chỉ cho phép bán một nhóm hàng cho một thương nhân là rất thấp. Lý do là việc tìm nhà phân phối cho các mặt hàng tiêu dùng thông thường như thực phẩm, đồ gia dụng thì không khó nhưng đối với các mặt hàng không phổ biến như phương tiện bay, tàu vũ trụ, tàu thủy v.v. thì việc tìm nhà phân phối là không dễ dàng.
Ngoài ra, quy định rằng chỉ được bán mỗi nhóm hàng nhập khẩu (mỗi nhóm hàng nhập khẩu tương đương một chương trong Biểu cam kết hàng hóa) cho một nhà phân phối thì cũng không phù hợp trên thực tế. Bởi vì, thứ nhất, nếu nhìn vào Biểu cam kết thì không thể hiểu được ranh giới giữa các chương. Ví dụ như trong Chương 3 (mã hàng HS03) của Mục II (Hàng phi nông sản) của Biểu cam kết lại có mã hàng HS 050 về san hô và các chất liệu tương tự. Vậy san hô và các chất liệu tương tự thuộc mã hàng 050 này có thuộc Chương 3 hay không hay thuộc chương nào khác? Nếu thuộc chương khác thì tại sao không có tên chương trong Biểu cam kết? Thứ hai, việc chỉ cho phép một nhà phân phối trong nước phân phối một chương hàng hóa là không hợp lý vì nhà phân phối trong nước thông thường có chức năng phân phối nhiều mặt hàng có liên quan với nhau. Yêu cầu nhà nhập khẩu phải tìm riêng cho mình từng nhà phân phối một cho mỗi nhóm (chương) hàng là không hợp lý và không phù hợp với thực tế. Ví dụ như việc tìm một nhà phân phối hóa chất đã là không dễ dàng trên thực tế thì nay nhà nhập khẩu phải tìm riêng một nhà phân phối trong nước thực hiện việc phân phối hóa chất vô cơ và một nhà phân phối thực hiện việc phân phối hóa chất hữu cơ.
Vì vậy, quy định tại điểm 3.1(d) của Thông tư 09/2007/TT-BTM là vừa trái với cam kết WTO của Việt Nam lại vừa đặt ra các yêu cầu không phù hợp với thực tiễn, chưa nói đến việc nó còn tạo ra giấy phép con thông qua việc phải đăng ký nhà phân phối trong nước. Vì vậy, điểm này của Thông tư được khuyến nghị là nên xây dựng lại theo hướng phù hợp với cam kết và có tính khả thi, thậm chí có thể xóa bỏ quy định này.
2.3. Về quyền góp vốn, mua cổ phần tại doanh nghiệp Việt Nam
Ngoài hai vấn đề nêu trên, một trong những vấn đề còn vướng mắc nữa là việc thực thi cam kết cho phép nhà đầu tư nước ngoài góp vốn dưới hình thức mua cổ phần tại doanh nghiệp Việt Nam. Vướng mắc ở đây liên quan đến hai vấn đề chính là thủ tục góp vốn, mua cổ phần như nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục gì khi góp vốn, mua cổ phần, những lĩnh vực nào không được góp vốn, việc thực hiện yêu cầu về ngoại hối như thế nào v.v.. Vấn đề thứ hai là quyền của nhà đầu tư sau khi góp vốn, mua cổ phần. Được biết Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang chủ trì soạn thảo Nghị định Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số cam kết [về đầu tư] của Việt Nam với Tổ chức Thương mại Thế Giới (WTO). Hy vọng rằng Nghị định trên sẽ trả lời những câu hỏi trên về việc góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại doanh nghiệp Việt Nam.
*
1. Lưu ý: Dù Nghị định 72/2006/NĐ-CP và Thông tư 11/2006/TT-BTM hướng dẫn Nghị định này cho phép việc thành lập chi nhánh của thương nhân nước ngoài. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn chưa có giấy phép thành lập chi nhánh nào được cấp.<br>Nguon: Tap Chi Nghe Luat - Hoc Vien Tu Phap
“Nếu bạn hỏi một người giỏi trượt băng làm sao để thành công, anh ta sẽ nói với bạn: ngã, đứng dậy là thành công”.
ISAAC NEWTON
Vi phạm hợp đồng đặt cọc: Người...